Thứ Tư, ngày 16 tháng 1 năm 2013

Về thăm nghề làm hương Trầm xứ Huế



Thắp một nén hương trên bàn thờ tổ tiền từ lâu đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong suy nghĩ của người Việt. Nó như “chiếc cầu nối” vô hình mà thiêng liêng, gắn chặt những tâm hồn hiện hữu với cõi tâm linh của đất trời. Đó cũng là lý do khiến cho nghề làm hương cổ truyền trải qua biết bao chặn đường vẫn còn sức sống cho đến ngày hôm nay.               

Và “chiếc cầu nối tâm linh” đó tiếp tục được những người con đất Huế trân trọng, gìn giữ hơn bao giờ hết, để đến bây giờ nhắc đến Huế, nhiều người không thể quên được nét “tinh tấn” tỏa ra từ hương trầm nơi đây.
Không phải tự nhiên nghề làm hương ở Huế phát triển và tồn tại lâu dài đến vậy. Mà vì, Huế là xứ của tâm linh, xứ được mệnh danh là thủ đô Phật giáo VN - nơi có một số lượng chùa chiền nhiều nhất so với bất cứ một địa phương lớn nhỏ nào khác trên lãnh thổ Việt Nam. Từng một thời là kinh đô của nhiều đời vua chúa nhà Nguyễn.
Bởi thế, nếu có dịp đến Huế, bạn có đi đến đâu đi nữa cũng dễ dàng bắt gặp cảnh các thợ làm hương đang làm việc. Có lẽ nó đã trở thành một nét văn hóa cho Huế mất rồi.
Nhưng tập trung nhất và nổi tiếng hơn cả là khu vực “làng Hương” nằm trên đường Huyền Trân Công Chúa. Nơi nhiều hộ dân lấy nghề hương làm nghề chính mưu sinh của mình.
Ngày trước khi tuyến đường này chưa được chú ý, cư dân sinh sống ở đây khá thưa thớt, và nghề hương vì thế cũng chưa phát triển mạnh. Nhưng về sau tuyến đường này được đầu tư xây dựng, nối làng hương với lăng vua Tự Đức – đồi Vọng Cảnh thì khu vực làng hương cũng trở nên nhộn nhịp hơn. Hiện nay, nơi đây tập trung khoảng trên 20 hộ dân sinh sống, với nghề hương là chính.

Nghề làm hương của Huế nổi tiếng nhất phải kể đến đó là loại “hương Trầm” với mùi hương khi đốt lên nhẹ dịu, sâu lắng mà ấp áp lạ thường. Hương trầm xứ Huế nhìn thì thấy thật đơn giản. Nhưng để có được những nén hương ưng ý là cả sự kỳ công của người thợ.
Với người Huế, để cho ra một mẻ hương tốt, người thợ thường rất chú ý đến khâu tuyển chọn nguyên liệu, bao gồm: Ngũ vị thuốc Bắc với quế chi, thảo quả, nụ tùng, đinh hương, hoa hồi; ngoài ra còn kèm thêm cả vỏ quả bưởi rừng, hoa bưởi khô, quế, bạch đàn…
Phần lõi hương thường được làm từ ruột tre chẻ nhỏ, được phơi kỹ qua nắng, qua sương nhiều ngày trời để tre thật khô, thật giòn. Có vậy, khi đốt lên cây hương sẽ cháy đều, cháy đến tận chân hương, và tàn hương thì uốn cong mà không gãy ngang bất chợt.
Sau công đoạn phơi khô chân hương, người thợ sẽ tiến hành công đoạn tạo màu cho “chân hương”. Ngày trước, người Huế thường chỉ làm chân hương với màu “đỏ sẫm” là chủ đạo. Nhưng hiện nay, tham quan làng Hương, bạn sẽ dễ dàng bắt gặp sự đa sắc của chân hương, nào đỏ tươi, gạch, xanh lá chuối, xanh đậm, vàng, tím… trông như 1 vườn hoa đang khoe sắc. Để có được màu sắc cho chân hương, người thợ sẽ hòa một lượng bột màu thích hợp trong nước sôi nóng (nước càng nóng chừng nào thì màu chân hương sẽ càng tươi sắc, và giữ được lâu chừng nấy), nhúng chân hương qua một vài lần, sau đó đem phơi khô lại lần nữa. Trong công đoạn tạo màu, người thợ cũng chú ý loại bỏ những chân hương có dấu hiệu ẩm mốc (vì những chân hương này khi phủ màu sẽ không giữ được màu sắc theo mong muốn của người thợ).
Thành phần mùn cưa tưởng chừng đơn giản là thế nhưng vẫn được người thợ lựa chọn khá cẩn thận. Thông thường mùn cưa phải từ những cây gỗ xốp, mềm, thân tốt, không bị mối mọt, khô, ít hút nước.
Để tạo độ kết dính cho hương, người thợ sử dụng vỏ cây “Bì lời”, một loại vỏ được lấy chủ yếu từ vùng rừng núi phía Tây Quảng Trị (Lao Bảo), hoặc từ Quảng Ngãi về.
Sau đó các thành phần sẽ được đem nhào vừa với nước sao cho hỗn hợp bột đạt độ “dẻo quánh” là có thể bắt đầu công đoạn se hương. Tuy nhiên, để tạo nên hương thơm khác biệt cho các mẻ hương lại tùy thuộc vào bí quyết của từng người thợ. Thường thì người thợ sẽ gia giảm các thành phần hương liệu theo một tỉ lệ thích hợp bằng phương pháp gia truyền. Điều mà nhiều người thợ giỏi thường nói rằng: “sự đặc biệt về tỉ lệ chính là điều quanh trọng nhất tạo cho sản phẩm có được hương thơm, độ bền nhất”.
Sau công đoạn “se hương”, hương thành phẩm sẽ được đem phơi nắng chứ không đưa vào máy sấy (vì làm như vậy hương sẽ giòn và dễ gãy, vừa làm mất mùi của hương).  
Hương trầm xứ Huế ngoài cái “đậm đà” còn đặc biệt hơn với truyền thuyết thần bí dựng đế đô của các chúa Nguyễn, mà các thế hệ người Huế vẫn còn mãi truyền tụng cho nhau nghe, đó là: “Một hôm chúa Nguyễn Phúc Trân (1687 – 1691) nằm mộng thấy một bà lão đầu tóc bạc phơ bảo với chúa rằng: Ngài hãy thắp một nén hương từ đồi Hà Khê xuôi về phía hạ lưu, đến chỗ nào hương tàn thì hãy dừng chân lại đó mà đóng đô thì cơ nghiệp sẽ vững muôn đời. Khi chúa tỉnh dậy, cho là điềm lạ bèn làm như lời bà cụ dặn. Khi chúa đi đến đoạn kinh thành Huế thì nén hương trên tay cũng vừa tàn hết. Thấy địa thế phong thủy nơi đây rất đẹp nên đã quyết định đóng đô tại đây. Và để tỏ lòng cảm tạ thần linh, chúa đã cho xây dựng chùa Thiên Mụ trên đồi Hà Khê, và đặt tên cho con sông này là “sông Hương”
Hương trầm xứ Huế đã đi vào từng phố phường, ngõ xóm, để rồi thơm ngát nơi nhà thờ, từ đường, trang nghiêm trong những nghi lễ tín ngưỡng của dân tộc, và thắt chặt hơn sợi dây nguồn cội của quê nhà.
------------
P/S:
- Thường người thợ sẽ trộn bột hương theo công thức : ½ keo + ½ bột trầm + 2 bột cưa.
- Làng Hương ở Huế nay thuộc thôn Trường Đá, phường Thủy Biều.
- Ngày trước, bột hương chỉ có 2 màu là: vàng và nâu đen. Nhưng hiện nay, đã xuất hiện rất nhiều màu hương khác nhau để thõa mãn nhu cầu của khách du lịch. 
- Huế giờ đây cũng đã có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh về hương như Cty cổ phần nhan Vĩnh Thịnh Phát tại khu vực Tứ Hạ - Hương Trà.
- “Cây hương” trong Nam còn có tên gọi là “cây nhang”
- Hương thắp thường là những con số lẻ như 1,3,5,7,9. Và người Việt không bao giờ thắp cả bó hương lên bàn thờ vì khói hương sẽ xông lên ngào ngạt, điều đó biểu hiện cho sự ô trọc, sự thất kính đối với hương linh người đã khuất.
- Thắp 3 cây hương 3, theo quan niệm của người xưa:
          + Tam bảo (Phật – Pháp - Tăng)
          + Tam giới (Dục giới – Sắc giới – Vô sắc giới)
          + Tam thời (Quá khứ - hiện tại – Tương lai)
          + Tam vô lậu học (Giới – Định – Tuệ)
- Hương còn thể hiện sự “vô thường” (sự không vĩnh viễn), mọi thứ đều là giả tạm, cũng như đời người ngắn ngủi…
- Trầm hương đối với nhiều quốc gia được đánh giá là mắc hơn cả vàng: như ở bán đảo A Rập ngày đó, hương liệu này ngoài việc sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo quan trọng, còn được sử dụng rất nhiều như khi chưa có keo chewing gum, người A Rập đã vón nhựa cây trầm thành những cục nhỏ để làm sạch khoang miệng hoặc hòa với nước để chữa bệnh thận và dạ dày. Xông hương trầm còn là một phương pháp để làm thanh sạch khí quản của người khỏe, và giúp người đau mau chóng hồi phục. Ngoài ra, người A Rập còn sử dụng nguyên liệu này trong ngành công nghiệp sản xuất nước hoa, như loại nước hoa “Amvadj” rất nổi tiếng tại vương quốc Oman xưa.