Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

ÁO BÀ BA

(sưu tầm và biên soạn)
Không biết tự bao giờ nhắc đến áo bà ba người ta nghĨ ngay đến vẻ đẹp thuần hậu, mộc mạc, dịu dàng của người phụ nữ Nam Bộ.
Nét đẹp dịu dàng, giản dị và duyên dáng của chiếc áo bà ba đã tốn không biết bao giấy mực trong những áng thơ ca và những nốt nhạc. Phụ nữ đất Bắc có chiếc áo tứ thân, chiếc khăn mỏ quạ, phụ nữ Huế có tà áo dài thướt tha đậm màu tím Huế, thì phụ nữ Nam bộ có chiếc áo bà ba với chiếc nón lá và chiếc khăn rằn. Bộ ba phụ kiện này đã đi kèm với nhau trở thành nét biểu trưng cho vẻ đẹp tâm hồn thanh cao cũng như nét đẹp dịu dàng và đằm thắm của phụ nữ nam bộ.

 Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cho đến nay, chưa có tài liệu nào nói rõ áo bà ba xuất hiện ở thời điểm nào. Do đó có một số giả thiết:
Áo bà ba xuất hiện đầu tiên ở Nam Bộ vào thời Nhà Hậu Lê.[cần dẫn nguồn]
Áo bà ba xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ 19, được Trương Vĩnh Ký cách tân từ áo của người dân đảo PénangMalaysia (người Malaysia gốc Hoa) cho phù hợp với người Việt.[cần dẫn nguồn]
Áo bà ba có nét giống cái "áo đàn ông cổ tròn và cửa ống tay hẹp"' mà Lê Quý Đôn đã quy định cho dân từ Thuận Quảng trở vào ở cuối thế kỷ 18.[cần dẫn nguồn]
Nhưng theo nhà văn Sơn Nam[cần dẫn nguồn] thì “Bà Ba là người Mã Lai lai Trung Hoa. Chiếc áo bà ba mà người miền Nam ưa thích, vạt ngắn không bâu chính là kiểu áo của người Bà Ba”. Một quan niệm khác lại cho rằng “Có thể áo bà ba ảnh hưởng, cách tân từ áo lá và áo xá xẩu may bằng vải buồm đen của người Hoa lao động, là kiểu áo cứng, xẻ giữa, cài nút thắt... Phải chăng do thời tiết quanh năm nóng bức, họ bỏ luôn chiếc cổ thấp của áo lá và áo xá xẩu, mang thêm áo quanh chân cổ cho chắc. Áo xẻ giữa thay vì cài nút thắt đã được làm khuy, cài nút nhựa do ảnh hưởng phương Tây”.
Áo bà ba cổ điển[sửa]
Người nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long ngày xưa thường vận bộ bà ba đen đi đồng, bởi nó vừa sạch, vừa dễ giặt giũ. Vải may là loại vải một, vải ú, vải sơn đầm... rất mau khô sau khi giặt.[cần dẫn nguồn] Bên cạnh đó, chiếc áo bà ba được xẻ ở hai bên hông làm cho người mặc cảm thấy thoải mái, gần vạt áo có thêm hai túi to khá tiện lợi cho việc đựng những vật dụng nhỏ như thuốc rê, diêm quẹt, tiền bạc... Chính nhờ tính tiện dụng và sự thoải mái đó, chiếc áo bà ba được cả nam lẫn nữ ở đồng bằng sông Cửu Long mặc cả lúc đi làm, đi chợ, đi chơi. Riêng lúc đi chơi, họ thường chọn màu sắc nhẹ hơn như màu trắng, màu xám tro. Còn các cô, các bà thì chọn màu mạ non, xanh lơ nhạt... với chất liệu vải đắt tiền hơn như the, lụa..[cần dẫn nguồn]
Áo bà ba hiện đại[sửa]
Sau này, nhất là ở thời kỳ những năm 1960-1970, áo bà ba truyền thống được phụ nữ thành thị cải tiến, vừa dân tộc, vừa đẹp và hiện đại hơn. Áo dài bà ba hiện nay không thẳng và rộng như xưa, mà được may hẹp, nhấn thêm eo bụng, eo ngực cho ôm sát lấy thân hình. Ngoài ra, người ta còn sáng tạo các kiểu chắp vai, cổ tay, cửa tay, riêng các kiểu bâu (cổ) lá sen, cánh én, đan tôn... là được tiếp thu từ kiểu y phục nước ngoài.[cần dẫn nguồn]
Bà ba vai raglan
Các kiểu ráp tay cũng được cải tiến. Từ kiểu may áo cánh xưa, liền thân với tay, người ta nghĩ tới cách ráp tay rời ở bờ tay áo. Trong những năm 1970, thành thị miền Nam phổ biến kiểu ráp tay raglan, đã tạo nên vẻ đẹp hiện đại cho chiếc áo dài bà ba truyền thống. Với kiểu vai raglan này, hai thân áo trước và sau tách rời khỏi vai và tay áo, trong khi tay và áo lại liền từ cổ tới nách. Bà ba vai raglan chỉ cần may khít, vừa vặn với eo lưng, không quá thắt như kiểu áo trước đó. Tay áo dài hơn nhưng hơi loe, có khi người ta bỏ cả hai túi ở vạt trước để tạo cho thân áo nhẹ nhõm, mềm mại hơn.

Bà ba vai raglan




Nam hay nữ đều mặc được

Vừa  lao động, vừa là thời trang  ở mọi nơi

Thời trang duyên dáng

...với chiếc nón lá và chiếc khăn rằn



Áo chít eo, xẻ tà vừa phải ở hai bên hông





Áo bà ba kết hợp với nón lá bình dị
Ngược dòng lịch sử, trở về mảnh đất Nam bộ thủa sơ khai, cũng là tìm về gốc tích của chiếc áo bà ba. Không như người Bắc mặc váy, yếm hay áo tứ thân... bộ y phục thường ngày của người Nam bộ thế kỷ XVIII là áo ngắn và quần dài. Về sau đến thế kỷ XIX đã có sự cải tiến quan trọng cho bộ y phục ban đầu ấy thành bộ y phục thông dụng mà chúng ta thấy ngày nay đó là bộ quần áo có tên bà ba. Nhưng cũng có người lại cho rằng bộ bà ba Nam bộ phỏng theo y phục của các nước lân cận nhờ quá trình giao lưu văn hoá. Cụ thể hơn đó là kiểu trang phục của người "BaBa"- một nhóm người Hoa sống trên đảo Pinang thuộc Malaysia ngày nay. Tuy nhiên, chúng ta phải luôn khẳng định một điều rằng dù xuất xứ như thế nào thì bộ bà ba đen, khăn rằn và nón lá đã kết hợp với nhau trở thành nét biểu trưng đặc sắc cho vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp văn hoá của người phụ nữ Nam bộ nói riêng và người phụ nữ Việt Nam.

... luôn đề cao sự giản dị, nền nã
Áo bà ba vốn là áo không cổ. Thân áo phía sau may bằng một mảnh vải nguyên, thân trước gồm hai mảnh, ở giữa có hai dải khuy cài chạy dài từ trên xuống. Áo chít eo, xẻ tà vừa phải ở hai bên hông. Độ dài của áo chỉ trùm qua mông, gần như bó sát thân. Áo kết hợp với chiếc quần đen dài chấm cổ chân hoặc gót chân đã làm đẹp thêm hình hài vóc dáng của người phụ nữ với chiếc lưng ong nhẹ nhàng, thanh thoát, mềm mại.
 ...với chiếc lưng ong nhẹ nhàng, thanh thoát, mềm mại.
Nếu so với các trang phục truyền thống trong và ngoài nước, thì có lẽ áo bà ba Nam bộ là bộ trang phục đơn giản nhất. Sự khiêm tốn này phù hợp với quan điểm sống của người Việt luôn đề cao sự giản dị, nền nã. Chỉ thế thôi nhưng nó đã dệt nên những bản hoà tấu nhẹ nhàng trầm bổng nối hai bờ quá khứ và hiện tại, làm nao lòng bao lữ khách qua đây.
...Áo bà ba Nam bộ là bộ trang phục đơn giản 

Ngày nay, ta có thể thấy họ - những người con gái Nam bộ ấy đảm đang khi ra đồng, mềm mại trên những chuyến đò ngang, thấp thoáng đâu đây bên những rặng dừa, gió tung tà áo trên những chiếc cầu tre lắt lẻo hay bay bổng trong điệu hò điệu lý.
 ...mềm mại trên những chuyến đò ngang

Áo là biểu tượng, là tâm hồn, là kết tinh của quê hương xứ sở, là hồn Việt trải qua mấy trăm năm kể từ khi cha ông ta khai phá mảnh đất phương Nam. Nhưng ngày nay cái đẹp thuần khiết ấy, những sắc màu dung dị ấy đang mai một dần đi. Cổ tròn, cổ tim hoặc cổ thìa vốn là đặc trưng của áo bà ba nhưng giờ đây dưới bàn tay biến tấu của các nhà thiết kế hoặc do sở thích cá nhân, cổ áo khi thấp, khi cao, khi trễ nải, lúc hình vuông, hình lá, lúc khoét rộng hở hang. Độ dài rộng ngắn hẹp của áo ư? Tuỳ thích! Ta biết đặc điểm của miền đất Nam bộ là nhiều kênh rạch sông nước, thừa nắng gió nên phải chít eo và xe tà thấp thôi để dù có đi làm hoặc đi chơi nắng gió sông nước chỉ đủ làm tung nhẹ tà áo mà không để làm mất đi vẻ e ấp kín đáo của người phụ nữ. Nhưng giờ đây người ta chít eo cao lên, vạt áo xe thật dài, xẻ thật cao gần về phía nách. Chắc để hở chút eo, chút lườn cho bắt mắt chăng?
...thường nhuộm màu đen, màu nâu...
Y phục xưa thường nhuộm màu đen, màu nâu, bằng lá bàng, vở cây đà, cây cóc hoặc trái dưa nưa (makloer). Từ một bộ bà ba đen ban đầu, theo thời gian sở thích và nếp sinh hoạt thay đổi dần dần nó được hoàn thiện thêm với đủ các cung bậc trầm bổng của màu sắc, hoạ tiết, hoa văn. Nhiều nhà thiết kế, nhà tạo mẫu có tâm huyết, muốn kế thừa và phát huy truyền thống của trang phục đã có những cải tiến, phá cách thành công để áo bà ba không những sống trong đời sống hàng ngày mà nó còn sống trên sân khấu thời trang, hoà nhịp cùng tiết điệu của cuộc sống hiện đại cùng bạn bè năm châu. Nhưng lại cũng có không ít mẫu mang những kiểu dáng, pha lẫn hoạ tiết, màu sắc, được cải biến một cách tuỳ tiện nếu không muốn nói là lố lăng, làm giảm thậm chí mất đi cái đẹp tự thân của bộ bà ba truyền thống (điều này ít nhiều xã xảy ra với áo dài, áo tứ thân, những kiểu trang phục của dân tộc ít người...), hình ảnh bộ bà ba đen nguyên sơ dân dã trở nên nhiều hình nhiều vẻ, loè loẹt sắc màu, thêu thùa biết bao hoa lá rồng phượng.
 Khí hậu Nam bộ nóng nắng quanh năm nên áo được may bằng chất liệu mềm, mát, thanh mảnh, nay được may bằng những gấm những nhung. Các nhà thiết kế, nhà tạo mốt, trước khi thực thi những ý tưởng sáng tạo nào đó nên chăng hãy để tâm một chút tìm hiểu lịch sử, phong tục, phong cách sống, quan niệm về cái Chân-Thiện-Mỹ của mỗi bộ y phục, mỗi dân tộc, mỗi xứ sở, để nắm được cái hồn, cái nét đặc trưng của bộ y phục gốc để từ đó sẽ có những sự biến tấu, cải biên phù hợp, không lạm dụng mà vẫn kế thừa bản sắc văn hoá của dân tộc. Với áo bà ba nên chăng hãy chọn những hoạ tiết hoa văn mềm mại, dịu dàng, những màu săc tươi mới vừa phải đủ để hoà vào vườn hoa thời trang nhưng không làm mất đi vẻ đẹp riêng của áo?
Dù cuộc sống vội vã hơn, ồn ào hơn...
Dù cuộc sống vội vã hơn, ồn ào hơn, dù thời gian có làm cho bao giá trị thay đổi đi, nhưng đó đây trên con đường thời gian đằng đẵng, mẹ ta, chị ta, em ta vẫn mặc chiếc áo ấy như một nét hồn quê vẫn còn ẩn hiện đâu đây, vẫy gọi ta tìm về bên cõi nhớ...